(VEN) - Khi nhu cầu than tăng cao cộng với điều kiện thực tế của nước ta, để khai thác than hầm lò đạt hiệu quả cao, cơ giới hóa là một khâu rất quan trọng. Phóng viên báo Kinh tế Việt Nam đã có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Anh Tuấn - Viện trưởng Viện Khoa học công nghệ Mỏ - TKV - đơn vị thành công trong nghiên cứu các giải pháp KHCN nhằm đẩy mạnh cơ giới hóa trong khai thác than hầm lò.
Thưa ông, với nhu cầu than đang ngày một tăng cao như hiện nay, việc cơ giới hóa trong khai thác than hầm lò có ý nghĩa như thế nào?
Nhu cầu than cho nền kinh tế đang ngày càng tăng. Theo quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030 là đạt 70 - 75 triệu tấn than vào năm 2020; 80-85 triệu tấn vào năm 2025 và 85-90 triệu tấn vào năm 2030.
Hiện nay, việc khai thác than hầm lò đã trở thành xu hướng tất yếu bởi lẽ các mỏ than lộ thiên hiện không còn nhiều. Cơ giới hóa trong khai thác than hầm lò sẽ giúp nâng cao năng suất, nâng cao độ an toàn, đồng thời giảm tổn thất tài nguyên trong khai thác than. Theo thống kê của Viện KHCN Mỏ thì tổng trữ lượng các vỉa than có khả năng cơ giới hóa trong khai thác là tương đối lớn, riêng ở khu vực bể than Đông Bắc là 740,839 triệu tấn, chiếm khoảng 13% so với tổng trữ lượng tài nguyên đã xác minh ở bể than này (5.572 triệu tấn).
Năm 2010 là năm đầu tiên Viện KHCN Mỏ - TKV tham gia đề án "Đổi mới và hiện đại hóa công nghệ trong ngành công nghiệp khai khoáng đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025". Vậy những kết quả mà viện đạt được trong vấn đề phát triển cơ giới hóa trong khai thác than hầm lò thông qua đề án này là gì, thưa ông?
 |
| Ông Nguyễn Anh Tuấn |
Mục tiêu của Viện KHCN Mỏ - TKV khi tham gia đề án này là xây dựng cơ sở dữ liệu địa cơ mỏ hoàn chỉnh phục vụ nhu cầu phát triển cơ giới hóa khai thác than Việt Nam, đồng thời nâng cao mức độ cơ giới hóa và hiện đại hóa trong quá trình sản xuất tại các mỏ than hầm lò Quảng Ninh nhằm tăng sản lượng khai thác, năng suất lao động, nâng cao độ an toàn, giảm tổn thất tài nguyên, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của ngành than…
Theo đó, trong khuôn khổ đề án, viện đã tiến hành một số đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá lại hiệu quả của các mỏ than sau khi áp dụng các thiết bị cơ giới hóa trong khai thác, đồng thời tiếp tục tìm kiếm những mỏ than có thể áp dụng cơ giới hóa. Cụ thể, với đề tài nghiên cứu nâng mức độ cơ giới hóa và hiện đại hóa khai thác hầm lò và định hướng ứng dụng cho các mỏ than hầm lò vùng Quảng Ninh (mã số ĐT.10.10/ĐMCNKK), viện đã tiến hành khảo sát công nghệ và thiết bị tại nước ngoài (công nghệ khai thác, chèn lò, an toàn mỏ, kiểm soát khí mỏ, đào lò tại Ba Lan, Trung Quốc, CH Séc, LB Nga, Ucraina) để tìm hiểu thông tin, nghiên cứu, lựa chọn các giải pháp kỹ thuật, công nghệ, thiết bị có thể ứng dụng vào điều kiện thực tế của vùng mỏ Quảng Ninh.
Đề tài thứ hai viện đã thực hiện là nghiên cứu, khảo sát hiện trạng áp dụng công nghệ cơ giới hóa trong khai thác than hầm lò ở Việt Nam. Theo đó, đề tài đã tiến hành nghiên cứu, khảo sát hiện trạng áp dụng công nghệ cơ giới hóa, các giải pháp kỹ thuật áp dụng ở các khâu sản xuất than hầm lò (khấu than, chống giữ gương, đào chống lò, hệ thống vận tải, cung cấp điện…) tại 12 công ty khai thác than hầm lò lớn của Tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam bao gồm: Mạo Khê, Nam Mẫu, Hồng Thái, Vàng Danh, Hà Lầm, Dương Huy, Quang Hanh, Hạ Long, Mông Dương, Khe Chàm, Núi Béo, Thống Nhất.
Đề tài thứ 3 là nghiên cứu, khảo sát, tổng hợp trữ lượng tài nguyên và đánh giá điều kiện địa chất kỹ thuật các vỉa than có khả năng áp dụng công nghệ cơ giới hóa trong khai thác. Trong khuôn khổ đề tài, viện cũng đã nghiên cứu khảo sát, tổng hợp trữ lượng tài nguyên, đánh giá điều kiện địa chất các vỉa than có khả năng áp dụng công nghệ cơ giới hóa khai thác than tại 12 công ty công ty khai thác than gồm: Mạo Khê, Nam Mẫu, Hồng Thái, Vàng Danh, Hà Lầm, Dương Huy, Quang Hanh, Hạ Long, Mông Dương, Khe Chàm, Núi Béo, Thống Nhất. Kết quả là trữ lượng các khu vực có khả năng áp dụng công nghệ cơ giới hóa ở Quảng Ninh tương đối lớn, bao gồm Hà Lầm, Nam Mẫu, Vàng Danh, Mạo Khê, Thống Nhất. Đồng thời, viện cũng đã phối hợp với các công ty khai thác than hầm lò khảo sát, đánh giá, lựa chọn thiết bị áp dụng vào các khu vực này. Từ những kết quả đã đạt được từ 3 đề tài nghiên cứu này, dự kiến, năm 2011, Viện sẽ phối hợp với các công ty trên để thực hiện áp dụng các công nghệ như: công nghệ cơ giới hóa khai thác than vỉa mỏng tại công ty than Quang Hanh; công nghệ cơ giới hóa khai thác than vỉa dày dốc tại Công ty Than Hạ Long; công nghệ cơ giới hóa vận chuyển người và vật liệu tại Công ty Than Vàng Danh…
Một trong những sản phẩm nổi bật nhất của Viện KHCN Mỏ - TKV trong phục vụ cơ giới hóa khai thác than hầm lò là sản phẩm dàn chống tự hành VINAALTA-1. Vậy những ứng dụng mà sản phẩm này mang lại trong khai thác than thời gian qua là gì, thưa ông?
Thời gian qua, viện đã tiếp tục liên kết với Công ty Than Vàng Danh theo hình thức nhận thầu khai thác than bằng đồng bộ thiết bị cơ giới hóa trên cơ sở áp dụng sản phẩm KHCN dàn chống tự hành VINAALTA-1. Năm 2010, sản lượng than khai thác được nhờ sản phẩm này là 142.000 tấn than nguyên khai, doanh thu đạt trên 27 tỷ đồng. Trên cơ sở kết quả mô hình tại Vàng Danh, viện đã triển khai phương án hợp tác áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới nhằm cơ giới hóa khai thác than đồng bộ tại Công ty Than Nam Mẫu với tổng vốn đầu tư 240 tỷ đồng theo hình thức góp vốn đầu tư, trong đó viện than gia góp vốn với tỷ lệ 30%. Trong tháng 7/2010, viện đã phối hợp với Công ty Than Nam Mẫu lắp đặt xong hơn 1.000 tấn thiết bị, đào tạo công nhân và xin cấp phép đưa công nghệ vào vận hành, đến nay đã khai thác được gần 75.000 tấn than. Hệ thống thiết bị làm việc ổn định, đạt năng suất cao, đảm bảo an toàn và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động. Những thành quả này sẽ là động lực giúp viện đẩy mạnh hơn nữa việc áp dụng sản phẩm này cho một số mỏ than khác, nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc cơ giới hóa trong khai thác than hầm lò thời gian tới./.
Xin trân trọng cảm ơn ông!
Bảo Ngọc thực hiện
|