Chuyển bộ gõ
25 năm đổi mới: Thành tựu và thách thức
Cập nhật lúc:  08:38 18/08/2011

(VEN) - Trải qua chặng đường dài ¼ thế kỷ, công cuộc đổi mới ở nước ta đã thu được những thành tựu mang ý nghĩa lịch sử, đưa nước ta thoát khỏi nhóm nước có thu nhập thấp, hội nhập vào khối quốc gia có thu nhập trung bình trên trế giới. Nhờ đó, thế và lực Việt Nam trên trường quốc tế đang dâng cao chưa từng thấy.

 

Để phát huy hơn nữa những thành quả đạt được, đưa đất nước phát triển bền vững trên chặng đường tiếp theo, công cuộc đổi mới đang cần phải cách tân toàn diện, mạnh mẽ hơn, triệt để hơn.
Cốt lõi của tư duy kinh tế mới
Năm 1985 được coi là “đêm trước” của công cuộc đổi mới. Thất bại của cuộc cải cách giá - lương - tiền (gắn liền cuộc đổi tiền tháng 10/1985) đã  đẩy kinh tế đất nước lún sâu hơn vào cuộc khủng hoàng mà đỉnh điểm lạm phát lên tới 774,7% vào năm 1986. Trong bối cảnh ấy, nhiều doanh nghiệp, nhiều địa phương (đi tiên phong là TP Hồ Chí Minh, An Giang, Long An, Hải Phòng, Vĩnh Phú…) đã biết “phá rào” để tự cứu mình, và bằng những kết quả thực tế đó đã gợi mở ra tư duy mới, đường lối kinh tế mới. Đồng thời, từ thất bại của cải cách giá-lương-tiền, Đảng và Nhà nước ta đã rút ra bài học: Không thể chỉ sửa đổi cục bộ từng yếu tố của cơ chế cũ, mà phải xoá bỏ hoàn toàn cơ chế đó để thực hiện cơ chế quản lý mới theo kinh tế thị trường, hội nhập với khu vực và thế giới.   
Cần thừa nhận rằng, trước Đại hội Đảng lần thứ VI, việc tìm tòi và thai nghén một tư duy kinh tế mới đã diễn ra, điển hình như Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (năm 1981) về khoán sản phẩm nông nghiệp đến người lao động và khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình nông thôn; hoặc việc xây dựng Luật Đầu tư nước ngoài đã được chỉ đạo thực hiện hết sức rốt ráo…  
Rốt cuộc, kinh tế hàng hoá nói chung, kinh tế thị trường nói riêng, đã được thừa nhận là thành tựu, là sản phẩm chung của loài người; mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia đều cần biết phát triển trên cơ sở khai thác tốt tài sản chung này.
Thừa nhận kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường tức là thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần; thừa nhận sự điều tiết của quy luật giá trị; là thừa nhận sự cần thiết tất yếu phải xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Nhờ nhận thức lại, nhận thức đúng học thuyết kinh tế của Các Mác, các quyết sách kinh tế đã đi vào cuộc sống, tạo nên những nhân tố mới đưa nền kinh tế Việt Nam hồi sinh và phát triển; không bị sụp đổ như Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu những năm 1990-1991, và trụ vững trong khi bị nước ngoài thực hành cấm vận kinh tế…   
Thành tựu và phát triển
Như gió lành, như mưa rào trên sa mạc, đường lối đổi mới do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI xác lập đã tạo ra sinh lực mới cho đất nước tăng tốc phát triển nhanh trong mọi lĩnh vực.
Ngoài thành phần kinh tế nhà nước và tập thể, kinh tế tư nhân dần dần được pháp luật thừa nhận, ngày càng được xã hội tôn vinh. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nẩy nở, đâm chồi nẩy lộc. Từ năm 1992-1993 các nước và các tổ chức tài chính quốc tế nối lại tài trợ cho Việt Nam, hàng chục tỷ USD vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đã được đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng, thay vì cấm vận trước kia. Từ khu vực thị trường nhỏ hẹp trong Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) xưa kia, nay hàng hoá Việt Nam vươn ra hơn 100 nước và khu vực. Việt Nam trở thành một trong những chuỗi giá trị toàn cầu, đáp ứng nhiều mặt hàng thiết yếu cho thị trường thế giới, thay vì phải nhập khẩu mọi thứ như 2 thập niên trước đây. Từ nước đói nghèo, nay trở thành nước thu nhập trung bình (thấp) của thế giới...  
Trên chính trường, từ nước bị cấm vận và hầu như bị cô lập, trở thành thành viên tích cực của ASEAN, của Liên hợp quốc, WTO…Có nhiều mốc son đánh dấu sự trưởng thành và phát triển chưa từng thấy của đất nước, trong đó nổi bật một vài mốc son quan trọng nhất sau đây.
Năm 1987 Luật Đầu tư nước ngoài được Quốc hội thông qua. Năm 1995 bình thường hoá quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ; Việt Nam gia nhập ASEAN và ký Hiệp định khung với EU. Năm 1998 Việt Nam gia nhập APEC. Năm 2000 ký Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ. Năm 2007 Việt Nam chính thức là thành viên Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO). Năm 2010 Hiệp ước Đối tác kinh tế toàn diện (EPA) Việt Nam-Nhật Bản có hiệu lực.
Theo Chỉ số Thịnh vượng (Prosperity Index) của 110 nước năm 2010 do Viện Nghiên cứu chính sách Legatum (Vương quốc Anh) thực hiện qua thẩm định 89 tiêu chí thuộc 8 lĩnh vực kinh tế-xã hội cơ bản, Việt Nam được xếp ở vị trí thứ 61 thế giới, tăng 16 bậc so với năm 2009 (đứng thứ 77), kém Trung Quốc 3 bậc, hơn LB Nga 2 bậc và hơn Ấn Độ 27 bậc, trong khi Na Uy đứng đầu bảng, dẫn đầu thế giới, Singapore đứng thứ 17 (dẫn đầu châu Á)… Rõ ràng, thành tựu của 25 năm đổi mới là rất to lớn, được dư luận quốc tế đánh giá cao. Tầm vóc Việt Nam ngày nay đã khác xưa. Đó là thực tế không ai có thể phủ nhận.
Đổi mới toàn diện, triệt để, quyết liệt hơn
Tuy nhiên, sau 20 năm đầu “cất cánh”, trong 4 năm trở lại đây, kinh tế đất nước đang đứng trước nguy cơ trì trệ, lạm phát phi mã, nhập siêu gia tăng, hệ số ICOR mỗi năm một lớn (thời kỳ 1991-1995 mới là 2,2 thì năm 2009 đã lên tới 8,2), đồng tiền quốc gia (VND) liên tục hạ giá, kinh tế vĩ mô thiếu ổn định vững chắc…
Tương tự như hồi 1985-1986 trước kia, các văn kiện của Đảng và Nhà nước vừa qua và hiện nay đã thừa nhận tình trạng đầu tư kém hiệu quả, tình trạng phát triển chủ yếu theo chiều rộng dựa vào lợi thế tài nguyên thiên nhiên, lao động rẻ và vốn, chưa chú trọng tăng năng suất lao động xã hội chủ yếu bằng việc áp dụng công nghệ cao và sử dụng nguồn lực được đào tạo.   
Sự bình đẳng thực sự theo pháp luật giữa các thành phần kinh tế vẫn chưa được xác lập thực sự, trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa được đổi mới thực chất, một bộ phận không nhỏ vẫn tiếp tục làm ăn thua lỗ, trong khi các thế mạnh của khu vực doanh nghiệp tư nhân vẫn chưa được khai thác ở mức cần thiết. Các loại hình thị trường vẫn chưa hình thành đồng bộ và đi vào hoạt động suôn sẻ.
Vì vậy, để vượt qua những thách thức, để đưa kinh tế đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững, thân thiện với môi trường, thì không thể chỉ thực hiện thật tốt ba khâu đột phá chiến lược là hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực và phát triển kết cấu hạ tầng, mà còn cần khẩn trương tái cấu trúc nền kinh tế, trong đó, các định chế về đầu tư công, tài chính công, doanh nghiệp nhà nước và tập đoàn kinh tế, đất đai và tài nguyên, vai trò của trí thức và nền kinh tế tri thức…là những nội dung cần được thể chế hoá rõ ràng, minh bạch và kích thích thực thi hiệu quả phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đó chính là nội dung của công cuộc đổi mới trong giai đoạn tới. Những mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội tới năm 2020 chỉ có thể về đích với công cuộc đổi mới được cách tân triệt để hơn, toàn diện hơn và thực thi quyết liệt hơn.
Càng tự hào về những kết quả đã đạt được trong 25 năm qua, càng cần quyết tâm, kiên trì thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới. Có vậy, mới tránh được bẫy của nước có thu nhập trung bình, mới thu hẹp được khoảng cách tụt hậu về kinh tế so với nhiều nước trên thế giới, và suy cho cùng, mới bảo vệ và phát triển chế độ chính trị - xã hội lên tầm cao văn minh, hiện đại./.
Lưu Tiền Hải 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại